CÁC LOẠI MÁY ĐỒNG HỒ

Là bộ phận quan trọng nhất, giúp đồng hồ chạy. Chúng nằm bên trong vỏ đồng hồ, phía dưới mặt kính và mặt số nên thông thường không thể thấy được hoặc chỉ có thể thấy một vài phần tuỳ theo thiết kế mặt và đáy của từng dòng đồng hồ.

Thường các hãng đồng hồ sẽ mua một phần hoặc toàn bộ máy từ các nhà cung cấp chuyên biệt. Tuy nhiên cũng có nhiều hãng đi ngược xu thế này, tức là họ tự sản xuất tất cả các bộ phận cho bộ máy mà không cần hợp tác với nhà cung cấp nào khác. Những bộ máy họ sản xuất ra được gọi là máy “in-house” và những đồng hồ mang máy này thường có được bán với giá cao hơn.

movement_2

CÁC LOẠI MÁY ĐỒNG HỒ

Dựa trên nguyên tắc hoạt động, máy đồng hồ được phân ra làm 2 loại chính: máy cơ (Mechanical Movement) và máy thạch anh (Quartz Movement).

So với máy thạch anh, máy cơ có độ chính xác thấp hơn và giá thành cũng đắt hơn do chúng có nhiều chi tiết cơ khí cần gia công phức tạp. Nhưng cũng vì thế mà máy cơ luôn được giới chơi đồng hồ và các nhà sưu tập yêu thích bởi chỉ chúng mới thể hiện hết sự tinh tuý của 600 năm nghệ thuật chế tác cơ khí đồng hồ.

1. Máy cơ

Máy đồng hồ cơ vận hành nhờ thế năng đàn hồi của dây cót.

Máy cơ được cấu thành chủ yếu bởi các chi tiết cơ khí như bánh răng, lò xo, con buông (escapement). Máy cơ gồm 2 loại: máy cơ thủ công – lên dây cót bằng tay (hand-winding) và máy cơ tự động (auto-winding) – vận dụng chuyển động của cánh tay và cổ tay để chuyển hóa thành năng lượng lên dây cót.

Máy cơ thủ công (Manual movement)

Đây là loại máy lâu đời nhất, ra đời vào thế kỉ 16. Với loại đồng hồ dùng loại máy này, cứ định kì một ngày hoặc một vài ngày, người đeo phải dùng tay vặn núm đồng hồ để lên dây cót. Đây là loại máy cổ điển nhất và thường được tìm thấy trong các bộ sưu tập đồng hồ đắt tiền, thể hiện đẳng cấp của người sở hữu nó.

Các bộ phận của bộ máy đồng hồ cơ lên dây cót bằng tay

Núm vặn – Crown(1): Núm hình bánh xe nằm phía bên ngoài của vỏ đồng hồ, được sử dụng để lên dây cót nạp năng lượng cho bộ máy và điều chỉnh thời gian khi cần thiểt.

Dây cót – Mainspring(1): Nằm trong hộp cót, là nơi trữ năng lượng cho bộ máy hoạt động. Dây cót có bản chất là một lò xo dạng cuốn và được nạp năng lượng bằng cách vặn núm vặn. Càng vặn núm nhiều vòng, lò xo càng căng thì năng lượng dự trữ càng lớn. Tuỳ dòng đồng hồ mà số vòng cần vặn để lên đầy cót và khả năng cót dự trữ năng lượng lại khác nhau. Thường thì cót có thể dự trữ năng lượng để đồng hồ hoạt động trong một hoặc một vài ngày. Với một số đồng hồ cao cấp, con số này có thể lên đến 10 ngày.

Hệ bánh răng (2, 5): Hệ bánh răng đảm nhận 2 nhiệm vụ: truyền năng lượng từ dây cót đến con buông, và truyền chuyển động đã được điều nhịp từ con buông đến kim đồng hồ

Con buông, hay còn gọi là bộ thoát – escapement (3):

manual_movement

Mô hình cấu tạo bộ máy cơ thủ công

Con buông (Escapement) đóng vai trò như một con cóc – một thiết bị trong ngành cơ khí. Nhờ sự phối hợp của con buông và bánh lắc, năng lượng liên tục từ bộ cót được chuyển thành các chuyển động đều đặn từng nhịp một.

Bánh lắc, hay bánh cân bằng (4): Là trái tim của bộ máy đồng hồ cơ. Bánh lắc đóng vai trò hệ thống điều nhịp cho đồng hồ. Bánh lắc thường gồm 2 phần: bánh xe và vành tóc. Vành tóc cũng là một lò xo dạng cuốn nhưng nhỏ hơn nhiều so với dây cót. Nhờ lò xo đàn hồi, con lắc có thể dao động theo một cung tròn. Giống với con lắc đồng hồ treo tường dao động theo một tần số cố định chỉ phụ thuộc độ dài của nó, bánh lắc cũng dao động với tần số cố định chỉ phụ thuộc vào bản thân bánh lắc (khối lượng và bán kính), khoảng 5-10 lần mỗi giây, giúp đồng hồ hoạt động chính xác.

Chân kính (Jewel): Khi bộ máy đồng hồ hoạt động, trục các bánh răng ma sát với ổ trục dẫn đến mài mòn. Chân kính được dùng để giảm ma sát cho trục bánh răng và các chi tiết cơ khí khác, giúp tăng độ bền và độ chính xác cho đồng hồ. Từ gốc tiếng Anh của chân kính là Jewel – nghĩa là đá, ngọc quý – xuất phát từ vật liệu làm ra chúng là hồng ngọc. Chân kính được làm từ hồng ngọc do đặc tính siêu cứng và khả năng hấp thụ nhiệt cao. Ngoài công dụng chính, chân kính còn đóng vai trò trang trí giúp tăng giá trị cho đồng hồ.

Máy cơ tự động (Automatic movement)

Khác biệt duy nhất giữa máy cơ tự động và thủ công chính là quả văng (rotor) giúp lên dây cót tự động thay vì phải vặn núm vặn.

mido_auto_movement

Một đồng hồ hiệu Mido sử dụng máy tự động

Về cơ bản quả văng là một khối kim loại hình bán nguyệt, có trục lệch tâm, khi người đeo cử động tay sẽ tạo ra ngẫu lực làm cho quả văng quay tròn và tự động lên cót cho bộ máy.

Bộ máy đồng hồ tự động

Mô hình bộ máy đồng hồ cơ. Trong máy cơ tự động, quả văng sẽ thay thế cho núm vặn của máy cơ thủ công

2. Máy thạch anh (Quartz movement)

Bộ máy thạch anh, hay máy chạy pin dùng nguồn năng lượng điện của pin để hoạt động.

Bên trong bộ máy thạch anh có một mạch điện tử và cần năng lượng điện để vận hành. Tất nhiên chúng có một số chi tiết cơ khí hỗ trợ

Các bộ phận của bộ máy thạch anh

Pin (Battery): Pin chính là nguồn dự trữ và cung cấp năng lượng, giống dây cót trên máy cơ. Thông thường pin có thể cung cấp năng lượng cho bộ máy từ 12 đến 24 tháng. Tuy nhiên cần chú ý thay thế pin càng sớm càng tốt khi nó sắp hết bởi khi pin cạn, lượng axit bên trong pin rò rỉ có thể phá hủy cả bộ máy.

Tinh thể thạch anh (Quartz Crystal): Giống với bánh lắc trên đồng hồ cơ, tinh thể thạch anh giúp tạo ra dao động ổn định cho đồng hồ. Khi được cấp điện áp vào một đầu, tinh thể thạch anh dao động với tần số chính xác 32,768Hz. Dao động này đến lượt nó lại tạo ra điện áp xung với cùng tần số ở đầu kia của tinh thể.

Mạch điện tử (Circut): Mạch điện tử trong bộ máy thực hiện 2 chức năng. Thứ nhất nó ổn định điện áp từ pin, tạo ra từ trường không đổi cho tinh thể thạch anh dao động ổn định. Thứ hai, nó là khuếch đại và điều chế tín hiệu điện từ tần số về tần số 1Hz hoặc 4-8Hz (cùng tần số dao động với kim đồng hồ) để cung cấp cho động cơ bước của bộ máy.

Động cơ bước (Stepping Motor): Khác với động cơ thông thường, động cơ bước không chuyển động liên tục mà theo từng “bước” (chuyển động rời rạc). Mỗi khi động cơ bước nhận tín hiệu điện nó sẽ quay 1 góc cố định, làm kim giây “nhảy” lên 1 đoạn. Với đa số đồng hồ quartz, động cơ này sẽ quay một góc 6 độ mỗi khi nhận được 1 tín hiệu mỗi giây.

Hệ bánh răng: Đóng vai trò trung gian truyền chuyển động từ động cơ bước đến các kim của đồng hồ.

Chúng ta vừa cùng nhau tìm hiểu các loại máy của đồng hồ đeo tay. Dù là cổ điển, đậm chất như máy cơ hay chính xác, hiện đại như máy thạch anh, bộ máy của đồng hồ xứng đáng là niềm tự hào cho sự tìm tòi, sáng kiến của văn minh loài người.

Related Posts

Add Comment